KINH VIỆT NAM VÀ TÔI

Monday, 27th April 2009

 

Năm 1971, anh trai tôi mở tiệm thâu băng, lúc đó tôi đang học lớp 11, tôi có điều kiện tiếp xúc với đủ thể loại nhạc kể cả nhạc ngoại quốc, lại còn kiêm nghề đánh máy mấy list nhạc cho khách hàng  (hồi đó là máy đánh chữ, anh tôi đánh giỏi lắm, tôi tập theo thôi).

Hai anh em tôi ở trên căn gác của cửa tiệm kinh doanh phụ tùng xe đạp và Honda, ba mẹ thì sau giờ buôn bán về ở một nơi khác. Dàn máy Akai và cassette được mang lên để trên gác. Đêm nào chúng tôi cũng được lời ca, tiếng nhạc ru vào giấc ngủ.  Trí nhớ tôi rất tốt , chỉ cần nghe qua  hai, ba lần là tôi thuộc lòng cả giai điệu và ca từ.

 Năm 1972 là năm của mùa hè đỏ lửa, chiến sự nổ ra  khắp nơi, lệnh tổng động viên ban hành, anh tôi vốn lớn hơn tôi hai tuổi phải làm lại giấy tờ để trốn lính, trở thành anh em sinh đôi với tôi (hic! Sau này vô sài Gòn, một lần nữa làm lại giấy tờ và trở thành em tôi).

Cũng năm 1972 đó,  băng Kinh Việt nam gồm 26 ca khúc của NS Trịnh Công Sơn được phát hành với tiếng hát của chính tác giả cùng Hoàng Xuân Sơn và 3 cô con gái của NS Dương thiệu Tước (Vân Hòa, Vân Khanh và Vân Quỳnh). Anh tôi làm nghề thâu băng nên băng nào mới phát hành cũng đều có ngay (lúc đó phần lớn đều là băng tròn Akai). Kinh Việt Nam  mang đến cho tôi trái tim đầy hoài bảo sẵn sàng cho cuộc dấn thân tìm lại quê hương mới mẽ xanh ngời những cánh đồng hòa bình.

Trong bối cảnh đau thương của đất nước lúc bấy giờ, trên khắp chiến truờng, người chết đều là chính chúng ta, những ca khúc trong băng Kinh Việt Nam trở thành những tiếng kêu thương thống thiết, khởi nguồn từ một thực trạng máu xương trong cuộc chiến "huynh đệ tương tàn" (một đời nước mắt chan cơm, hờn căm cắt chia anh em...) mà thực ra cả hai miền Nam Bắc đều là công cụ của Mỹ và Trung quốc trong  những mưu đồ "ý thức hệ" của tam cường Nga, Trung , Mỹ .  (Xác thân anh em thừa đủ biến thành con đập lớn ngăn chận những mưu toan phi nhân. Ðã mười năm nay, anh em ta săn đuổi nhau bằng hận thù giả tạo- trích lời tựa của NS TCS trong tập Kinh Việt Nam ).

Nhưng trong thực trạng đớn đau đó (Bao năm xác xơ đời Dân ta tắm máu tươi, ai vui đếm xác người...), lời ca mang theo niềm mơ ước, nỗi hân hoan từ trong trái tim người đang chờ đợi một ngày bình yên (Ngày mai đây nhìn quanh, Hoà bình sẽ tưới xanh ruộng đồng, Thuyền ngược xuôi trăm ghe chèo con nước lớn, Hoà bình đến đây cho dân ta về vui với cánh đồng) ngày  hòa bình thống nhất quê hương (Chờ tin mừng sông chờ núi cũng chờ mong, Chờ trên vừng trán mẹ thắp lên bình minh, Chờ khô nước mắt, Chờ đá reo ca, Chờ áo cơm nuôi cho những trẻ con không nhà, chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những tình thương vỡ bờ),
và cùng nhau hát vang ‘Đồng dao hòa bình" (Đường ta đi mênh mông phố xá bao người quen. Bàn chân ta thênh thang những nắm tay reo mừng) nhìn một Việt nam " cờ bay trăm ngọn cờ bay. Đường phố hôm nay sáng rực đèn, sáng rực đèn trong làng trong xóm", một Việt nam "Nhà cần người xây, ruộng cần bàn tay, Vũ khí xếp lại".

Băng Kinh Việt Nam chỉ mới phát hành vài tháng đã có lệnh cấm lưu hành của chính quyền . Cấm hát, cấm bán, cấm lưu hành nhưng không cấm được lương tâm và trái tim người Việt nam yêu hòa bình, càng không cấm được ước mơ chấp cánh của tuổi trẻ miền nam đứng lên đòi hỏi hòa bình (Chính chúng ta phải nói hoà bình Khi tim người rực lửa cầu mong, Chính chúng ta phải có mọi quyền, Đứng lên đòi thống nhất quê hương)

Những lời ca chân thành, thống thiết như những lời Kinh nguyện cầu cho máu thôi đổ trên quê hương. Phạm Công Thiện, một Triết gia miền Nam  trong tác phẩm "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" và "Hố thẳm tư tưởng" mà khi vào Đại học Sài Gòn tôi đã được đọc,  cũng lên tiếng kêu đòi chấm dứt cuộc chiến, hãy ngưng đi những lời tuyên truyền giả trá khắp nơi, hãy dừng lại những tham vọng chính trị phi nhân để trả cho tuổi trẻ sức sống đích thực. Sau này tôi mới biết rằng Thượng tọa Thích Nhất Hạnh viết quyển "Nói với tuổi hai mươi"  chính là đáp lại lời kêu gào đầy phẫn nộ của Phạm Công Thiện.

Tháng 8/1973, tôi vào Sài Gòn học Đại học mang theo trong tim ngọn lửa quê hương vốn được dưỡng nuôi bằng lời ca tiếng hát  mà sâu đậm nhất là của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với Kinh Việt Nam. Đi học nhưng chủ yếu là kết giao bè bạn, nói dóc chuyện chính trị, thời sự bao la thế giới. Kiến thức của sinh viên thời bấy giờ khá uyên bác và hầu như đều đầy những nỗi niềm về thời cuộc của đất nước khi trên báo chí nhan nhãn những thông tin đàn áp giới sinh viên đấu tranh, những  bài bình luận, xã luận về thời sự chính trị và cách hành xử quá đáng của chính quyền lúc đó.

Sang năm 1974, mẹ tôi thuê nhà để làm nghề gò hàn, tôi cũng tách khỏi đám bạn ở chung tại nhà của bà dì trong con hẽm đối diện chùa Vĩnh Nghiêm.

Cũng năm đó , tôi theo chân người bạn thời cấp III của tôi tham gia phong trào "Tiếng hát những đêm không ngủ", cũng biểu tình rầm rộ như ai, cũng bị rượt bắt chạy loanh quanh trong hẽm. Có lần bị bắt , bị giam 7 ngày trong  trại tạm giam ở đường Lê văn Duyệt quận 3 , híc! Cũng ra tòa đàng hoàng nhưng do sơ phạm, và thuộc loại ăn theo  nên quan tòa thả tôi về (lúc đó là tháng 3/1975), dù gì tôi cũng đã nếm mùi tù giam , mỗi ngày ăn hai chén cơm nhỏ , chỉ có hai món xào tới xào lui (đậu đủa và bầu xào), tôi không ăn đậu đũa được nên chỉ ăn cơm với nước mắm, bữa nào có bầu xào thì ăn được.

(còn tiếp)
* Những dòng chữ in nghiêng màu đỏ là lời ca tr trong Việt Nam


Đây là ca khúc "Dân ta vẫn sống" , một ca khúc trong băng Kinh Việt nam của Trịnh Công Sơn phát hành năm 1972 , gửi tặng các bạn nghe